Quy định pháp lý về các tội xâm phạm tính mạng

“Tính mạng con người là trên hết”. Sức khỏe của con người cũng là điều quan trọng nhất bởi vì có sức khỏe là có tất cả. Hiến pháp 2013 quy định quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe là quyền cơ bản của công dân. Mọi hành vi xâm hại sức khỏe, tính mạng của người khác đều là hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định về quyền cơ bản của con người. Đây cũng là hành vi vô cùng tàn nhẫn, bị xã hội lên án gay gắt và cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Dưới đây là bài viết về các quy định mang tính pháp lý về các tội xâm phạm .

0
47
kế toán
kế toán

1- Khái niệm các tội xâm phạm tính mạng

Các tội xâm phạm tính mạng là những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của người khác.

Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự thực hiện một cách có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người, trái pháp luật hình sự, do người đủ điều kiện chủ thể thực hiện.

Trong Bộ luật hình sự năm 2015 cổ 13 tội danh thuộc nhóm tội phạm này. Đó là:

– Tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự);

– Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124 Bộ luật hình sự);

– Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự);

– Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126 Bộ luật hình sự);

– Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 Bộ luật hình sự);

– Tội vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ luật hình sự);

– Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 Bộ luật hình sự);

– Tội bức tử (Điều 130 Bộ luật hình sự);

–  Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 131 Bộ luật hình sự);

–  Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132 Bộ luật hình sự);

–  Tội đe dọa giết người (Điều 133 Bộ luật hình sự);

–  Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 Bộ luật hình sự);

– Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 149 Bộ luật hình sự).

Trong các tội danh nêu trên, hai tội danh cuối được quy định lần đầu trong Bộ luật hình sự năm 1999. Sự bổ sung này là cần thiết vì dựa trên các cơ sở thực tế. Đó là:

– Thứ nhất, tình trạng nhiễm HIV ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay;

– Thứ hai, khả năng xảy ra hành vi cố ý lây truyền cũng như hành vi cố ý truyền HIV ở Việt Nam hiện nay và

– Thứ ba, tính nguy hiểm của những hành vi này trong điều kiện khả năng cứu chữa người mắc căn bệnh HIV/AIDS của thế giới và Việt Nam hiện nay.

Hành vi phạm tội của hai tội danh này có tính nguy hiểm đến tính mạng của người bị lây nhiễm HIV nên có thể được xếp vào nhóm các tội xâm phạm tính mạng.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

2- Các yếu tố cấu thành tội phạm

[a] Khách thể của tội phạm

Khách thể của nhóm tội phạm này là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Khách thể của nhóm tội phạm này được phản ánh trong BLHS qua dấu hiệu đối tượng tác động của tội phạm.

Đối tượng tác động của nhóm tội phạm này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người, là thực thể tự nhiên và xã hội mà trong BLHS được gọi là “người khác”.

[b] Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của các tội xâm phạm tính mạng tuy khác nhau ở hình thức thể hiện cụ thể nhưng có cùng tính chất là đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đó. Hành vi này được mô tả là dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong tẩt cả các CTTP. Trong những hành vi phạm tội của nhóm tội này có những hành vi có thể được thực hiện cả bằng hình thức hành động và không hành động (như hành vi của tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS), có những hành vi chỉ có thể được thực hiện bằng hình thức hành động (như hành vi của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội được quy định tại Điều 126 BLHS) và có hành vi chỉ cổ thể được thực hiện bằng hình thức không hành động (hành vi của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy đỉnh tại Điều 132 BLHS).

Hậu quả mà những hành vi nói trên (trừ hành vi được quy định tạỉ Điều 133) có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra là thiệt hại đển quyền sống của con người, thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất là chết người. Tuy nhiên, hậu quả chết người chỉ được mô tả là dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong một sổ CTTP (như các CTTP tại Điều 123, Điều 124, Điều 125 BLHS). Ở các CTTP còn lại, hậu quả chết người không được mô tả là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của CTTP. Hai trong sổ các CTTP đó có sự mô tả dấu hiệu hậu quả là hành vi tự sát của nạn nhân (các CTTP tại Điều 130 và Điều 131 BLHS).

[c] Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của hầu hết các tội xâm phạm tính mạng không phải là chủ thể đặc biệt. Những người có năng lực trách nhiệm hình sự đều có khả năng trở thành chủ thể của nhiều tội thuộc nhóm tội phạm này. Trong các tội xâm phạm tính mạng có 4 tội danh mà cấu thành tội phạm có sự phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp dấu hiệu đặc biệt của chủ thể của tội phạm. Những dấu hiệu đó là: “là mẹ của nạn nhân mới được sinh”, “là người đang thi hành công vụ”, “là người có quan hệ lệ thuộc với nạn nhân” và “là người b| nhiễm HIV”. 04 tội danh đó là tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ” (Điều 124 Bộ luật hình sự), tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 Bộ luật hình sự); tội bức tử (Điều 130 Bộ luật hình sự) và tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 Bộ luật hình sự). Trong nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể, dấu hiệu chủ thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấu hiệu đặc biệt.

[d] Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội có thể là lỗi cố ý (như các tội được quy định tại Điều 123, Điều 133 BLHS) hoặc lỗi vô ý (như tội được quy định tại Điều 128 BLHS)…

Động cơ phạm tội của nhóm tội phạm này tương đối đa dạng nhưng chỉ được phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp trong một số CTTP như CTTP được quy định tại Điều 124 BLHS.

3- Quy định hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng

Hình phạt chính được quy định cho các tội xâm phạm tính mạng có nhiều mức độ khác nhau. Hình phạt thấp nhất là cảnh cáo và cao nhất là tử hình. Trong sổ các tội xâm phạm tính mạng có 01 tội danh được quy định luôn luôn là tội phạm ít nghiêm trọng (Điều 124 Bộ luật hình sự); 02 tội danh được quy định có thể là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (các điều 123 và 149 Bộ luật hình sự); 04 tội danh được quy định có thể là tội phạm rất nghiêm trọng (các điều 127, 128, 129 và 130 Bộ luật hình sự); 06 tội danh được quy định có thể là tội phạm nghiêm trọng (các điều 125,126,131,132,133 và 148 Bộ luật hình sự).

Ngoài hình phạt chính, hình phạt bổ sung được quy định ở 05 tội danh. Đó là tội giết người, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và tội cố ý truyền HIV cho người khác. Hình phạt bổ sung được quy định cho 05 tội danh này là hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Riêng ở tội giết người còn có thêm hình phạt bổ sung là hình phạt quản chế và hình phạt cấm cư trú.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Quy định pháp lý về các tội xâm phạm tính mạng được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Quy định pháp lý về các tội xâm phạm tính mạng có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here