Khái quát chung về hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là một trong những dạng hợp đồng được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về khái niệm này. Để hiểu rõ về hợp đồng hợp tác kinh doanh là gì? Và những điều cần lưu ý khi ký kết hợp đồng này là gì? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây:

0
37

1- Khái niệm về hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế theo quy định tại Khoản 14, Điều 3, Luật Đầu tư 2020.

Hợp đồng BCC là hình thức đầu tư dễ tiến hành, thích hợp với các dự án triển khai nhanh, thời hạn đầu tư ngắn. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC giúp doanh nghiệp sớm thu được lợi nhuận vì nhà đầu tư không mất thời gian đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mới, không phải thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện dự án nên thủ tục đầu tư đơn giản, tốn ít thời gian, chi phí, quy mô dự án linh hoạt.

Khái niệm hợp đồng hợp tác kinh doanh lần đầu tiên xuất hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, có phạm vi điều chỉnh là quan hệ hợp tác kinh doanh giữa nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nước  ngoài. Khi mới được quy định trong pháp luật đầu tư Việt Nam, hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ có thể được ký kết và thực hiện giữa hai bên chủ thể, bao gồm một bên nước ngoài và một bên Việt Nam. Phù hợp hơn với thực tiễn kinh doanh, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1990 đã quy định hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp đồng hai bên hoặc nhiều bên (phía Việt Nam có thể gồm một hoặc nhiều bên, phía nước ngoài cũng có thể gồm một hoặc nhiều bên). Trên cơ sở này, hợp đồng hợp tác kinh doanh đã được định nghĩa là: văn bản được ký giữa hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác kinh doanh. Cùng với các quan hệ hợp doanh được thực hiện với các nhà đầu tư nước ngoài, quan hệ hợp doanh giữa các nhà đầu tư trong nước cũng hình thành ở thời điểm đó, song còn thiếu các quy định cụ thể, ngoài các quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế nói chung.

Luật Đầu tư năm 2005 ra đời, quy định thống nhất về hoạt động đầu tư. Theo đó, khoản 16 Điều 3 Luật này quy định “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân”. Tuy nhiên, khái niệm nêu trên có hạn cho là đánh đồng hợp đồng BCC và hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC; trong khi đó, về bản chất hợp đồng BCC là một loại hơn đồng trong kinh doanh; khác với đầu tư theo hợp đồng BCC với tư cách là một hình thức đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư. Khắc phục hạn chế này, hiện nay, khái niệm hợp đồng BCC được ghi nhận tại khoản 9 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018, 2019 “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.

Nếu như trước đây, hợp đồng BCC chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật đầu tư thì từ ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017) để thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế nhất định. Lần đầu tiên, trong Bộ luật Dân sự đã ghi nhận hợp đồng hợp tác với tư cách là một hợp đồng dân sự thông dụng (được quy định từ Điều 504 đến Điều 512). Tại Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra quy phạm định nghĩa về hợp đồng hợp tác là: “Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”. Từ sự đối chiếu trong quy định của Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018, 2019 với quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cho thấy, hợp đồng BCC thể hiện đầy đủ các yếu tố mang tính bản chất của hợp đồng hợp tác được quy định trong Bộ luật Dân sự: từ cơ sở hình thành hợp đồng cho đến sự tự do ý chí, tự nguyện, mục đích của hợp đồng, cách thức thực hiện hợp đồng để đạt được mục đích mà các bên đề ra. Cụ thể là:

– Chủ thể tham gia hợp đồng là các cá nhân, pháp nhân cùng đóng góp công sức, tài sản.

– Mục đích giao kết hợp đồng là cùng thực hiện công việc nhất định, cùng chia sẻ lợi ích, đồng thời, cùng chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại phát sinh trong quá trình thực hiện công việc. Quá trình thực hiện công việc, phương thức phân chia lợi nhuận cũng như gánh chịu rủi ro cụ thể sẽ tuân theo những thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực đầu tư của Công ty Luật TNHH Everest

2- Chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Chủ thể của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC là các nhà đầu tư bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Hợp đồng có thể bao gồm đại diện của hai bên chủ thể hoặc nhiều bên, nó phụ thuộc vào số lượng đại diện muốn tham gia hợp tác kinh doanh, muốn trực tiếp được thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Nhà đầu tư (không phân biệt quốc tịch) có thể trở thành chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh, gồm (03) ba nhóm sau:

(i) Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;

(ii) Cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam;

(iii) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Như vậy, mọi tổ chức, cá nhân là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài, thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tư nhân đều có thể trở thành chủ thể của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC. Đây là điểm khác biệt so với các quy định về hình thức đầu tư theo hợp đồng này theo pháp luật về đầu tư trước đây.

3- Nội dung của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Khi ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên cầu lưu ý các nội dung chủ yếu sau:

(1) Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;

(2) Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

(3) Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

(4) Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

(5) Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

(6) Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

(7) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest

4- Đặc điểm của hợp đòng hợp tác kinh doanh

Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng hợp tác, qua phân tích quy định pháp luật, có thể nhận diện hợp đồng BCC thông qua một số đặc điểm:

– Về tính chất: Đây là quan hệ đầu tư được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các nhà đầu tư có chung vốn kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế mới.

Do quan hệ giữa các nhà đầu tư được quy định trong hợp đồng do chính các bên thỏa thuận, soạn thảo, do đó, hợp đồng BCC ít chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật. Ngoài việc không thành lập pháp nhân chung giữa các nhà đầu tư được xem là đặc điểm quan trọng để phân biệt hợp đồng BCC với hợp đồng thành lập doanh nghiệp. Trong hợp đồng BCC, các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư chỉ ràng buộc với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ theo theo thỏa thuận trong hợp đồng mà không có sự ràng buộc về mặt tổ chức. Trong quá trình đầu tư theo hợp đồng BCC, các nhà đầu tư sử dụng tư cách pháp lý của mình để thực hiện việc ký kết hợp đồng cũng như tiến hành các công việc phục vụ cho dự án đầu tư chung, mặc dù các bên có thỏa thuận thành lập Ban điều phối để thực hiện hợp đồng nhưng ban này không phải đại diện pháp lý cho các bên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách pháp lý độc lập của mình để chủ động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Yếu tố này mang lại cho các nhà đầu tư sự linh hoạt, tính độc lập, ít lệ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư. Các nhà đầu tư cũng tránh được những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình quản lý điều hành dự án đầu tư do không trở thành đồng sở hữu chủ của một tổ chức kinh tế mới nào đó.

– Về chủ thể của hợp đồng: Chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh là các nhà đầu tư, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Về số lượng chủ thể tham gia, có thể bao gồm hai hoặc nhiều nhà đầu tư cùng có quan hệ hợp tác kinh doanh với nhau (song phương hoặc đa phương). Đây là đặc điểm phân biệt hợp đồng hợp tác kinh doanh với các hợp đồng khác trong hoạt động thương mại như hợp đồng mua bán hàng hóa,hợp đồng cung ứng dịch vụ. Những hợp đồng này thường chỉ có sự tham gia của hai bên (ví dụ: một thương nhân bên mua và một thương nhân bên bán).

– Về nội dung quan hệ đầu tư: Cũng như quan hệ đầu tư khác, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng đòi hỏi các nhà đầu tư phải bỏ vốn để cùng kinh doanh, cùng chịu rủi ro, cùng phân chia kết quả kinh doanh.

Xét về lợi thế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh giúp sớm thu được lợi nhuận vì các nhà đầu tư không mất thời gian đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mới. Do không phải thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện dự án nên thủ tục đầu tư cũng đơn giản, không tốn nhiều thời gian, chi phí, do đó, đây là hình thức đầu tư dễ tiến hành, thích hợp với các dự án cần triển khai nhanh, thời hạn đầu tư ngắn’ như lĩnh vực bất động sản, khai khoáng, thăm dò, khai thác dầu khí, v.v..

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực đất đai, bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest 

5- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Khái quát chung về hợp đồng hợp tác kinh doanh được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Khái quát chung về hợp đồng hợp tác kinh doanh có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here