Hội đồng trọng tài lao động là gì? Giải quyết các tranh chấp nào?

Hội đồng trọng tài lao động là một trong những chủ thể có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp lao động theo Bộ luật lao động. Khách hàng băn khoăn về cơ cấu tổ chức Hội đồng trọng tài lao động và cách thức Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp lao động như thế nào?

0
30

1- Trọng tài lao động là gì?

Trọng tài lao động là phương thức giải quyết tranh chấp lao động mà theo đó trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài có thẩm quyền sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp lao động dựa trên cơ sở các nguyên tắc nhất định theo sự thỏa thuận hợp pháp của các bên tranh chấp hoặc theo quy định của pháp luật. Phán quyết của trọng tài có giá trị bắt buộc thi hành với các bên.

2- Tiêu chuẩn,điều kiện trọng tài viên lao động

Điều 98 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định về điều kiện, tiêu chuẩn trọng tài viên lao động như sau:

+ Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, công tâm.

+ Có trình độ đại học trở lên, hiểu biết pháp luật và có ít nhất 05 năm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động.

+ Không thuộc diện đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

+ Được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh đề cử làm trọng tài viên lao động theo quy định

+ Không phải là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, công chức thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest

3- Thành lập hội đồng trọng tài lao động

[a] Trình tự bổ nhiệm trọng tài lao động

Bước 1: Lựa chọn cá nhân đáp ứng điều kiện tiêu chuẩn trọng tài viên lao động

Bước 2: Liên đoàn Lao động cấp tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh đề cử lên Sở lao động – Thương binh và xã hội trên cơ sở quy định về số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động.

Trong đó, mỗi tổ chức để cử với số lượng như sau:

+ Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử,

+ Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

+ Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

Bước 3: Trên cơ sở để cử tại bước 2, kể từ ngày nhận hồ sơ đề cử Sở lao động – Thương binh và xã hội lập hồ sơ đề cử Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 10 ngày.

Bước 4: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm trọng tài viên lao động để tham gia Hội đồng trọng tài lao động. Trong đó, Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

[b] Hồ sơ đề cử bao gồm:

+ Văn bản đề nghị của cơ quan đề cử;

+ Đơn đề nghị tham gia làm trọng tài viên lao động của người được đề cử;

+ Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền;

+ Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp theo quy định của Bộ Y tế;

+ Bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu các văn bằng, chứng chỉ liên quan.

Cơ cấu và nhiệm kỳ Hội đồng trọng tài lao động

Xem thêm:  Dịch vụ thư ký pháp lý từ xa của Công ty Luật TNHH Everest

Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động ít nhất là 15 người, và chia đều tại các đơn vị đề cử. Trong đó:

+ Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội được bổ nhiệm trọng tài viên lao động, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm;

+ Thư ký Hội đồng là công chức Sở Lao động – Thương binh và Xã hội được bổ nhiệm trọng tài viên lao động, là thường trực của Hội đồng, làm việc theo chế độ chuyên trách;

+ Thành viên khác của Hội đồng là các trọng tài viên lao động còn lại, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm;

Hội đồng trọng tài lao động được sử dụng con dấu riêng.

Nhiệm kỳ hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.

4- Trách nhiệm của hội đồng trọng tài lao động

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 101 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm như sau:

+ Giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các Điều 189, 193 và 197 của Bộ luật Lao động năm 2019

+ Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở nơi sử dụng lao động không được đình công theo quy định.

+ Giải quyết tranh chấp lao động khác theo quy định của pháp luật;

+ Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh theo quy chế hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động;

+ Định kỳ hằng năm báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động cấp tỉnh và tổ chức đại diện người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh kết quả hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động.

5- Thành lập ban trọng tài khi nhận đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp

Khoản 4 Điều 185 quy định về lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau:

4. Khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các điều 189, 193 và 197 của Bộ luật này, Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau:

a) Đại diện mỗi bên tranh chấp chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao động;

b) Trọng tài viên lao động do các bên lựa chọn theo quy định tại điểm a khoản này thống nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động;

c) Trường hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn.

5. Ban trọng tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 4 Điều này.

Xem thêm:  Dịch vụ luật sư hợp đồng của Công ty Luật TNHH Everest

6- Giải trình tranh chấp lao động của Hội đồng trọng tài lao động

[a] Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hội đồng trọng tài lao động

Căn cứ quy định tại Điều 189 Bộ luật lao động năm 2019 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động được thực hiện như sau:

+ Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp trong trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 188 của Bộ luật này. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.

+ Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

+ Trường hợp hết thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận đơn đề nghị mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

[b] Giải quyết tranh chấp lao động tập thể của hội đồng trọng tài lao động

Căn cứ quy định tại Điều 193 Bộ luật lao động năm 2019, Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Hội đồng trọng tài lao động được tiến hành như sau:

+ Nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền theo đúng quy định

+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.

+ Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác, Ban trọng tài phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

Đối với tranh chấp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 179 của Bộ luật lao động mà xác định có hành vi vi phạm pháp luật thì Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết mà lập biên bản và chuyển hồ sơ, tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Trường hợp các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao thì trong thời gian Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Khi hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực lao động của Công ty Luật TNHH Everest

[c] Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của hội đồng trọng tài lao động

Điều 197 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động như sau:

+ Nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp theo đúng quy định pháp luật

+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.

+ Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập, căn cứ vào quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

+ Khi các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động theo quy định tại Điều này thì tổ chức đại diện người lao động không được tiến hành đình công trong thời gian Hội đồng trọng tài lao động đang tiến hành giải quyết tranh chấp.

Khi hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập mà Ban trọng tài không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp có quyền tiến hành thủ tục quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật lao động năm 2019 để đình công.

Xem thêm:  Pháp lý tái cấu trúc doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest

7- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viếtHội đồng trọng tài lao động là gì? Giải quyết các tranh chấp nào? được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Hội đồng trọng tài lao động là gì? Giải quyết các tranh chấp nào? có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here