Đặc điểm lịch sử về chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam

Khác với các nước Đông Nam á, Việt Nam là nước duy nhất cho đến đầu thế kỉ XX quá trình tư hữu hoá đất đai vẫn chưa hoàn thành. Mặc dù vậy, sẽ là sai lâm khi ai đó cho rằng ở Việt Nam Không tổn tại sở hữu tư nhân về ruộng đất. Do những điều kiện ở Việt Nam vừa thuộc sở hữu nhà nước, vừa thuộc sở hữu tư nhân: “Trong các triều đại phong kiến Ở nước ta vừa có sở hữu đất đai của nhà nước như quân điền, quan điền mà vua là người đại diện (nhưng vua không phải là chúa đất lớn nhất như ở phương Tây), vừa có sở hữu công xã về đất đai, vừa có sở hữu ruộng đất tư nhân”? Sự song hành tồn tại bao hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân về ruộng đất trong suốt chiều dài lịch sử chế độ phong kiến đã tạo nên những nét đặc trưng của chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam.

0
33

1- Quy định chung về chế độ sở hữu toàn dân với đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được xây dựng và phát triển từ Hiến pháp năm 1980, được kế thừa và phát triển tại Hiến pháp năm 1992. Các Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai đều quy định về sở hữu toàn dân đối với đất đai. Luật đất đai năm lần đầu tiên quy định Nhà nước trong vai trò người đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, có quyền của người chủ sở hữu đại diện, Từ đó, nhà nước có quyền định đoạt đất đai thông qua việc quyết định mục đích sử dụng đất từ việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, quyết định việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất. Ngoài ra, nhà nước trong vai trò người đại diện chủ sở hữu có quyền điều tiết các lợi ích từ đất đai thông qua chính sách tài chính về đất đai.

Cùng với việc xác lập rõ vai trò của Nhà nước, pháp luật đất đai tiếp tục mở rộng quyền cho người sử dụng đất, dù đó là tổ chức hay hộ gia đình, cá nhân trong nước, là nhà đầu tư nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việc bảo hộ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất chính là khía cạnh thứ hai trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam, phản ánh một nét đặc trưng tiêu biểu của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực đất đai, bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest 

2- Đặc điểm lịch sử về chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam

2.1- Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của nhà nước

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, việc xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với đất đai xuất hiện từ rất sớm ở nước ta.Điều này được lý giải bởi các nguyên nhân chủ yếu sau: về khía cạnh chính trị, việc xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước (mà đai điện là nhà vua) đối với đất đai nhằm khẳng định chủ quyền, sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của các triều đại phong kiến Việt Nam với các nước láng giềng. Mặt khác, việc Nhà nước nắm giữ đất đai – tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội – trong tay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền phong kiến từ trung ương đến địa phương; về khía cạnh kinh tế, nghề trồng lúa nước xuất hiện từ rất sớm ở nước ta và đóng vai trò là một ngành sản xuất chủ yêu. Tuy nhiên, năng suất lao động, hiệu quả kinh tế của phương thức canh tác trồng lúa nước lại phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên. Để khắc phục sự tàn phá của thiên nhiên đối với sản xuất nông nghiệp (như hạn hán, lũ lụt…) thì việc xây dựng, tu bổ hệ thống thuỷ lợi, đê điều đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Với chức năng quản lí xã hội, các nhà nước phong kiến đã tổ chức, tập hợp người dân trong công cuộc khai phá các vùng đất mới, đắp đê, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi. Với ý nghĩa đó, mỗi mảnh đất mà người nông dân canh tác đều,hàm chứa công sức đầu tư của nhà nước.Mặc dù quyền sở hữu tối cao của nhà nước về đất đai bắt đầu manh nha hình thành vào triều Lý (thế kỉ thứ XI) xong nó chỉ thực sự được xác lập một cách tương đối vững chắc từ thời Lê sơ (thế kỷ thứ XV) và được tiếp. tục duy trì trong các thể ki sau. Quá trình xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với đất đai được đánh đấu bằng các sự kiện chủ yếu sau đây:

– Nhà Lý sau khi giành được ngôi báu và củng cố vững chắc quyền lực thống trị của mình đã cho tiến hành đo đạc lại ruộng đất trong cả nước nhằm xác lập chủ quyền của Nhà nước đối với toàn bộ đất đai trong cả nước; quá trình xác lập quyền sở hữu này được tiếp tục thực hiện dưới thời nhà Trần bằng việc vua Trần lập ra một chức quan chuyên lo về việc điền địa, trông coi đê điều;

– Thời nhà Lê, sau cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh giành được thắng lợi năm 1428, vua Lê cho tiến hành thống kê ruộng đất trong cả nước: “Rộng đất của các quan tì ngạch cũ, của các thể gia triểu trước, của những người dân tuyệt tự, cũng là ruộng đất và sản vật từng mùa của ngụy quân, của lính trần hạn đến tháng tư năm sau thì phải nộp lên”. Cùng với việc thống kê năm bắt tình hình ruộng đất, năm 1429 nhà Lê đã tiến hành thu hồi ruộng đất của bọn quan lại nhà Minh, của ngụy quân chiếm đoạt,số ruộng đất của nhân dân bị bỏ hoang, của lính trốn để sung làm ruộng đất của công. Đồng thời, nhà nước cũng quản lý chặt chẽ ruộng đất công thông qua việc nhà vua ra lệnh cho các phủ làm ruộng đắt, số hộ.

Hơn nữa, để thực hiện quyền sở hữu của mình đối với ruộng đất, nhà nước cần đặt ra chế độ tô thuế cho từng loại ruộng đất, quy định cụ thể quyền sở hữu của mình trên ruộng đất công.Do củng cố vững chắc sự thống nhất, tập trung quyền lực nên nhà Lê đã can thiệp mạnh mẽ vào quyền sở hữu ruộng đất của làng, xã thông qua phép quân điền (điều mà các triều đại phong kiến Lý, Trần trước đây dường như chưa hoặc ít thực hiện được). Phép quân điền được ban hành chính thức thành quy chế vào đời Hồng Đức (1470 – 1497), theo đó, nhà Lê phân chia các ruộng đất công cho dân các làng, xã với thời hạn chia lại ruộng đất là 6 năm một lần. Như vậy, với những chính sách chặt chẽ và tương đối triệt để của nhà Lê về ruộng đất dẫn đến kết quả là: “quyền sở hữu về ruộng đất của làng, xã bị can thiện khả mạnh. Trước đây, công xã vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức phân phối cho các thành viên (nông dân) thì nay công xã chỉ còn là người quản lÝ ruộng cho nhà nước,giúp nhà nước phân chia ruộng, thu thuế theo quy định chung.Quyền tự trị của làng, xã trong lĩnh vực này bị huỷ bỏ dân”. Tuy Nhiên, đến cuối triều Lê (thế kỷ thứ XVII) do sự suy yếu của chính quyền phong kiến trung ương đã dẫn đến việc làm suy yếu quyền sở hữu nhà nước đối với ruộng đất. Tình trạng mua bán, chiếm đoạt ruộng công điền diễn ra khá phổ biến.

Tóm lại: Quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai được hình thành từ rất sớm ở nước ta xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập tự chủ cũng như đồi hỏi của việc phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước. Hình thức sở hữu này bắt đầu manh nha từ thế kỉ thứ XI, được củng cố vững chắc ở thế kỷ thứ XV và tiếp tục được duy trì ở các triều đại phong kiến tiếp theo với quy mô và mức độ khác nhau.

Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp nhà đất (luật sư đất đai) của Công ty Luật TNHH Everest

2.2- Quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai

Mặc dù chế độ ruộng đất công được nhà nước phong kiến bảo hộ và phát triển mạnh mẽ nhất trong thời kỳ Lê sơ song bên cạnh đó còn tồn tại quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất. Hình thức sở hữu này bắt đầu xuất hiện ở nước ta từ thời Lý – Trần: “ở Việt Nam đã có sự tấn tại và phát triển của chế độ sở hữu tư nhân về đất đai không những vào thế kỉ XV mà còn từ nhiều thế kỷ trước”. Đến thời Lê sơ, với những chính sách ban cấp ruộng đất cho công thần, quan lại, quý tộc có quy mô lớn, số lượng ban chấp nhiều, nhà nước lại cho phép họ có quyền định đoạt (có quyền mua bán, chuyển nhượng, dùng làm tài sản thừa kế) trừ khi phạm tội, nên sở hữu tư nhân trở thành một hình thức sở hữu phổ biến.Sở hữu tư nhân về ruộng đất bao gồm: 

i) Sở hữu lớn của những quan lại, quý tộc được nhà nước ban cấp ruộng  đất; 

ii) Sở hữu nhỏ của những người nông dân đô có sức lao động, có quyền mua ruộng đất và tích tụ đất đai. Do sự phát triển của sở hữu tư nhân ngày càng mạnh, nhà nước không chỉ thừa nhận mà còn có chính sách bảo vệ hình thức sở hữu này. Pháp luật nhà Lê trước hết bảo vệ quyền sở hữu đất đai của giai cấp địa chủ, phong kiến rất chặt chẽ. Các hành vị xâm chiếm hoặc bán trộm đất đai bị trừng phạt rất nặng. Bên cạnh đó, pháp luật cũng bảo vệ quyền sở hữu đất đai hợp pháp của tư nhân và trừng phạt các hành vi xâm phạm. 

Bước sang thế kỉ XVI, ruộng đất tư hữu phát triển mạnh mẽ hơn so với thời kỳ trước đó. Chế độ chiếm hữu lớn tư nhân về ruộng đất là một trong những tiền đề dẫn đến việc chấm dứt thời kỳ thống trị của nhà Lê sơ và sự thống nhất của cả nước dưới một chính quyền chung. Các cuộc chiến tranh liên miên nổ ra ở các thế kỉ XVI – thế kỉ XVII không những tàn phá nghiêm trọng nên sản xuất nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp địa chủ, phong kiến xâm chiếm ruộng đất công và ruộng đất của nông dân. The ki XVIII được ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc bởi sự phân chia đất đai và tranh giành quyền lực thống trị của hai tập đoàn phong kiến đàng Ngoài (vua Lê – chúa Trịnh) và đàng Trong (nhà Nguyễn). Sự tranh giành quyền lực của 2 tập đoàn phong kiến này đã tác động mạnh mẽ lên chính sách đất đai nói chung và chế độ sở hữu tư nhân vẻ ruộng đất nói riêng ở nước ta trong thế kỷ XVII. Cụ thể:

 – Về ruộng đất tư ở đàng Ngoài, do sự phát triển của chế độ sở hữu tư nhân vẻ ruộng đất ở những thập kỉ đầu của thế kỷ thứ XVI đã ảnh hưởng lớn đến thu nhập của nhà nước, làm sụt giảm đáng kể cho nguồn thu của nhà nước. Dẫn đến việc buộc nhà nước phải huỷ nô lệ miễn thuế cho ruộng tư vốn được thực hiện suốt từ thế kỉ XV cho đến lúc đó. Kết quả là nhà nước quyết định đánh thuế đối với cả ruộng đất công và ruộng đất tư nhưng với mức độ khác nhau. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp quan lại đóng vai trò chủ chết trong giai cấp phong kiến, năm 1724. chúa Trịnh Cùng với việc ban cấp ruộng đất huệ dưỡng, ruộng sử thần và các chế độ bổng lộc khác cho quan lại đã ban lệ miễn thuế ruộng tư cho quan lại. Chính sách này đã có tác dụng khuyến khích các quan lại mua, tậu ruộng tư và do vậy đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất.

– Về ruộng đất từ ở đàng Trong, đề mở mang lãnh thổ bờ cõi và tăng cường nguồn nhân lực, của cải nhằm cùng cỗ tiềm lực chính trị, quân sự và kinh tế phục vụ trực tiếp cho cuộc tranh giành quyền lực với nhà Trịnh ở đàng Ngoài, chúa Nguyễn đã ban hành một loạt chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.Một trong những chính sách đó là chính sách khuyến khích, động viên mọi người tích cực khai phá đất hoang bằng cách miễn thuế sử dụng đất trong 3 năm đầu và coi ruộng đất khai phá thuộc quyền sở hữu của người bỏ công sức và vốn liếng ra khai phá. Kết Quả là ở vùng cực nam của đất nước xuất hiện một loạt các trang trại tư nhân lớn. Chính sách khẩn hoang này của chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho sở hữu tư nhân về ruộng đất phát triển và tồn tại dai dẳng, vững chắc ở miễn Nam.

Từ sự phân tích khái quát đặc điểm hình thành quyền sở hữu ruộng đất ở nước ta có thể đưa ra nhận xét như sau: “Ở Việt Nam,nhà nước giữ quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ đất đai của quốc gia. Vì vậy quyền tư hữu đối với ruộng đất là một thứ quyền tư hữu bị hạn chế và không hoàn chính, luôn luôn bị sự chi phối lớn quyền sở hữu tối cao của nhà nước. Đây chính là một đặc điểm lớn trong chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam”.

Tóm lại: Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay được xây dựng không chỉ dựa trên những luận cứ khoa học của học thuyết Mác-Lênin về quốc hữu hoá đất đai mà còn căn cứ vào những điều kiện thực tiễn đặc thù của nước ta, cũng như kế thừa và phát triển tập quấn chiếm hữu đất đai của cha ông trong lịch sử.

Xem thêm:  Dịch vụ luật sư thu hồi đất của Công ty Luật TNHH Everest 

3- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Đặc điểm lịch sử về chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Đặc điểm lịch sử về chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here