Các yếu tố cơ bản của pháp luật hôn nhân gia đình ở Việt Nam hiện nay

Đối tượng của Luật Hôn nhân và gia đình là các quan hệ về hôn nhân và gia đình, tức là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, mà trọng tâm là các quan hệ về thân nhân và các quan hệ về tài sản.Những quan hệ xã hội mà được các quy phạm pháp luật hồn nhân và gia đình điều chỉnh thì gọi là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

0
49

1- Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Một trong những đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là ở chỗ chủ thể của nó chỉ có thể là cá nhân (thể nhân). Điều này cũng nhấn mạnh thêm sự khác nhau giữa Luật hôn nhân và gia đình với Luật dân sự. Muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật, cá nhân đó phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi.

Năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình. Trong một số trường hợp, năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình phát sinh từ lúc sinh ra (ví dụ: có quyền được cha mẹ, anh, chị, em cấp dưỡng, giáo dục). Trong một số trường họp khác, năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình phát sinh từ khi cá nhân công dân đạt một độ tuổi nhất định (vỉ dụ: độ tuổi kết hôn) trong trường họp này, năng lực pháp luật và năng lực hành vi cùng phát sinh đồng thời.

Một số ý kiến cho rằng năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình trong mọi trường hợp đều phát sinh từ lúc con người sinh ra. Đặt giả thiết là ý kiến đó đúng thì có nghĩa là phải thừa nhận quyền kết hôn thông qua người đại diện nếu người muốn kết hôn chưa đạt độ tuổi có năng lực hành vi hôn nhân và gia đình. Do vậy, có thể thấy sự khác nhau cơ bản giữa năng lực pháp luật hôn nhân và gia đình với năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật nói chung.

Nội dung của năng lực pháp luật bao gồm những quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực quan hệ gia đình. Trong một số trường họp pháp luật quy định những điều kiện mà khi có hoặc không có các điều kiện đó thì công dân không thể có các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình (ví dụ: luật cấm kết hôn giữa nhũng người có cùng dòng máu về trực hệ). Sự hạn chế khả năng có quyền này hay nghĩa vụ kia được quy định vì quyền lợi của mỗi công dân hay toàn xã hội. Cần phải phân biệt sự hạn chế khả năng có quyền và nghĩa vụ này với những trường họp tương tự về hình thức khi nói về hạn chế khả năng sử dụng thuộc quyền (vỉ dụ: làm người đỡ đầu, giám hộ, cha mẹ nuôi…).

Xem thêm: Dịch vụ luật sư ly hôn của Công ty Luật TNHH Everest

Năng lực hành vi là khả năng bằng các hành vi của mình tạo ra cho bản thân những quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, phát sinh khi đạt một độ tuổi nhất định, về nguyên tắc, độ tuổi đó là thành niên. Thế nhưng khả năng có một số quyền có thể sớm hơn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định cụ thể và thực tế, trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên có quyền thể hiện nguyện vọng chung sống với cha hoặc với mẹ sau khi cha mẹ li hôn (Điều 81, Điều 84),…

Những người không có năng lực hành vi do bị bệnh tâm thần thì không có khả năng bằng các hành vi của mình tạo cho bản thân quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (không thể kết hôn, không thể là người giám hộ…). Đối với những người này thì quyền và nghĩa vụ về nhân thân cũng như tài sản trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sẽ do người giám hộ thực hiện cho họ, trừ một số trường hợp (quyền kết hôn, li hôn) thì không thể được.

2- Quyền và nghĩa vụ của hôn nhân và gia đình

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ chủ thể hôn nhân và gia đình cho mỗi người. Các quyền và nghĩa vụ đó là nội dung của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

Các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình có thể là về nhân thân, về tài sản. Trong quyền và nghĩa vụ về tài sản còn có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng. Quyền về nhân thân hoàn toàn không có nội dung kinh tế. Quyền và nghĩa vụ tài sản có đặc điểm là nó gắn liền với nhân thân của con người nhất định. Vỉ dụ: Vợ và chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau. Một trong hai người chết thì sẽ chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đó (trong luật dân sự thì có thể chuyển cho người thừa kế).

Từ đó đi đến kết luận rằng, quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình không thể chuyển nhượng cho người khác được. Vỉ dụ như không thể nhường quyền được cấp dưỡng cho người khác, nhường nghĩa vụ giáo dục con cho người khác…Quyền của chủ thể trong các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình theo bản chất pháp lí là quyền tương đối; chủ thể Luật Hôn nhân và gia đình luôn luôn đối lập với chủ thể khác. Ví dụ như quyền của cha mẹ tồn tại bởi vì nó có một chủ thể khác liên quan – đó là đứa con. Mọi quyền nhân thân của vợ chồng tồn tại chỉ vì có hôn nhân hợp pháp. Chấm dứt hôn nhân có nghĩa là chấm dứt quyền nhân thân. Rõ ràng quyền chủ thể trong luật hôn nhân và gia đình – đó là quyền tương đối.

Trong một số trường họp, quyền và nghĩa vụ pháp lí vừa là tương đối vừa là tuyệt đối; ví dụ, cha mẹ có quyền đòi con mình từ những người khác đang chiếm giữ bất họp pháp trên cơ sở pháp luật hoặc quyết định của Tòa án. Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung là tương đối đồng thời cũng là tuyệt đối (quyền sở hữu).

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý về hợp đồng hôn nhân của Công ty Luật TNHH Everest

3- Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có thể là lợi ích nhân thân, các hành vi và các loại tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Thường thường khách thể có tính chất tống họp, bao gồm tất cả các loại trên.

  • Lợi ích nhân thân: họ, tên, nghề nghiệp, việc làm,…
  • Các hành vi có thể là: mọi hoạt động để quản lí tài sản chung của vợ chồng, mọi việc làm thể hiện sự chăm sóc đối với cha mẹ… Việc giáo dục là thuộc về hành vi. Nó chỉ có thể là một quá trình liên tục, trong một khoảng thời gian tương đối dài.
  • Các loại tài sản như là một khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình: có thể là đồ vật trong khối tài sản chung của vợ chồng hoặc có thể dưới hình thức một số tiền nào đó (tiền cấp dưỡng), quyền sử dụng đất, nhà ở, doanh nghiệp, tài sản trí tuệ,…
  • Con không thể là khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong mọi trường hợp, khi nhìn bề ngoài có cảm tưởng rằng con là khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình (vỉ dụ: tranh chấp giữa cha mẹ về giáo dục con, về việc giao con cho ai nuôi,…) nhưng thực tế con lại là một trong các chủ thể. Tranh chấp trong trường họp đó là về việc sử dụng quyền cha mẹ trong việc giáo dục con.

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Các yếu tố cơ bản của pháp luật hôn nhân gia đình ở Việt Nam hiện nay được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Các yếu tố cơ bản của pháp luật hôn nhân gia đình ở Việt Nam hiện nay có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here