CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA – KHÁI NIỆM VÀ CHÍNH SÁCH XỬ LÝ

Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là nhóm tội phạm được quy định tại chương đầu tiên trong Phần các tội phạm của BLHS. Nhóm tội phạm này có tính chất nguy hiểm cho xã hội rất đặc biệt vì có khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội giữ vị trí quan trọng, có tính quyết định trong hệ thống các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Đó là an ninh quốc gia

0
47

1- Khái niệm và đặc điểm các tội xâm phạm an ninh quốc gia

[a] Khái niệm các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 3 Điều 3 Luật An ninh Quốc gia 2004).

An ninh quốc gia là tổng thể các an ninh trên các lĩnh vực khác nhau như an ninh chính trị, an ninh kinh tể, an ninh tư tưởng – văn hoá, an ninh xã hội, an ninh quốc phòng, an ninh đối ngoại V.V.. Trong đó, an ninh chính trị là trung tâm, giữ vai trò quyết định của an ninh quốc gia. Trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia có tội có thể xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể nhưng cũng có tội chỉ có thể xâm phạm an ninh quốc gia thuộc lĩnh vực cụ thể nhất định. Tuy nhiên, tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc lĩnh vực chính trị cũng được coi là xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể do ý nghĩa quyết định của lĩnh vực an ninh này.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam và quốc tể; dựa trên kinh nghiệm đấu tranh chống các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cũng như kinh nghiệm lập pháp hình sự trong lĩnh vực này, BLHS (năm 2015) đã quy định từ Điều 108 đến Điều 121 mười bốn tội danh khác nhau thuộc chương Các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đó là các tội danh sau:

– Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108);

– Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109);

– Tội gián điệp (Điều 110);

– Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111);

Như vậy, các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi cổ ý xâm hại sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm hại sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tồ quốc Việt Nam.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý luật sư ly hôn của Công ty Luật TNHH Everest.

[b] Đặc điểm các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Các tội phạm nói trên có chung một số đặc điểm sau:

– Các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều xâm phạm một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau của an ninh quốc gia. Các quan hệ xã hội bị các tội xâm phạm an ninh quốc gia xâm phạm đều thuộc nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất. Đó là nhóm quan hệ xã hội về an ninh quốc gia với nội dung cụ thể đã được định nghĩa trong Luật an ninh quốc gia.

– Lỗi của người phạm tội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều là lỗi cố ý.

– Mục đích của người phạm tội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều hướng tới mục đích chung là chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, chống chính quyền các cấp của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Trong các đặc điểm chung nói trên của các tội xâm phạm an ninh quốc gia, đặc điểm chung về mục đích phạm tội là đặc điểm để phân biệt giữa một số tội xâm phạm an ninh quốc gia với các tội phạm thuộc các chương khác của Bộ luật hình sự có những đặc điểm khác tương tự như ở các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ví dụ: Giữa tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 Bộ luật hình sự) với tội khủng bố (Điều 299 Bộ luật hình sự); giữa tội phá rối an ninh (Điều 118 Bộ luật hình sự) với tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 Bộ luật hình sự); giữa tội chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119 Bộ luật hình sự) với tội đánh tháo người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét xử, chấp hành án phạt tù (Ðiều 387 Bộ luật hình sự)…

Bên cạnh các đặc điểm chung như vậy, giữa các tội xâm phạm an ninh quốc gia còn có những điểm khác nhau về quan hệ xã hội cụ thể bị trực tiếp xâm phạm và chủ thể của tội phạm. Cụ thể: Về khách thể trực tiếp, có tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể như tội phản bội Tổ quốc, có tội chỉ xâm phạm đến an ninh quốc gia thuộc lĩnh vực cụ thể như tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; về chủ thể của tội phạm, có tội phạm chỉ có thể do người Việt Nam thực hiện như tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, có tội có thể do người nước ngoài và cả người Việt Nam thực hiện như tội gián điệp v.v.. Trong nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể, dấu hiệu chủ thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấu hiệu đặc biệt.

Từ sự khác nhau giữa các tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể phân loại chương tội phạm này thành các nhóm khác nhau theo tiêu chí chủ thể của tội phạm hoặc theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm. Theo tiêu chí chủ thể của tội phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành ba nhóm: Nhóm tội phạm có thể do bất cứ ai thực hiện không phụ thuộc vào quốc tịch, nhóm tội phạm chỉ có thể do người có quốc tịch Việt Nam thực hiện và nhóm tội phạm chỉ có thể do người không có quốc tịch Việt Nam thực hiện.

Theo tiêu chí phạm vi quan hệ xã hội bị trực tiếp xâm phạm có thể phân các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành hai nhóm: Nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tổng thể (có tính nguy hại tổng thể) và nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc từng lĩnh vực (có tính nguy hại cho từng lĩnh vực).

Nhóm thứ nhất, có 3 tội danh là tội phản bội Tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội gián điệp. Trong đó, tội phản bội Tổ quốc và tội gián điệp có phạm vi xâm phạm an ninh quốc gia ở diện rộng có tính tổng thể của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân tuy chỉ xâm phạm một lĩnh vực an ninh nhưng là lĩnh vực chính trị nên cũng bị coi là xâm phạm an ninh quốc gia có tính tổng thể.

Nhóm thứ hai, các tội danh còn lại. Các tội phạm này xâm phạm an ninh quốc gia thuộc các lĩnh vực khác nhau: An ninh lãnh thổ, an ninh trật tự, an ninh kinh tế – xã hội, an ninh tư tưởng.

Xem thêm:  Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Everest 

sử dụng luật sư thuế

2- Chính sách xử lý các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Điều 12 Luật an ninh quốc gia đã xác định rõ chính sách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Theo đó, việc xử lý các hành vi này cần tuân thủ các nguyên tắc xử lý được áp dụng chung cho tất cả các tội phạm sau:

– Nguyên tắc xử lý kịp thời và nghiêm minh

– Nguyên tắc xử lý nghiêm trị kết hợp với khoan hồng.

Theo nguyên tắc thứ nhất, tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều phải được xử lý kịp thời. Tuân thủ nguyên tắc này ià điều kiện cần thiết đảm bảo tính hiệu quả của đấu tranh chổng các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phát huy được tối đa tác dụng phòng ngừa cùa các biện pháp xử lý. Khi thực hiện việc xử lý kịp thời vẫn phải đảm bảo tính nghiêm minh. Theo đó, các tội xâm phạm an ninh quốc gia tuy là loại tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội rất đặc biệt nhưng việc xử lý về hình sự các tội phạm này vẫn đòi hỏi phải tuân thủ tuyệt đối và đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam, trước hết là luật tố tụng hình sự và luật hình sự cũng như pháp luật quốc tế. Việc xử lý về hình sự các tội xâm phạm an ninh quốc gia đòi hỏi phải có sự rõ ràng, công khai, đảm bảo tính bình đẳng trước pháp luật của tất cả những người phạm tội, không có sự phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài; an ninh kinh tế-xã hội, an ninh tư tưởng.

Theo nguyên tắc thứ hai, việc xử lý về hình sự các tội xâm phạm an ninh quốc gia cần có sự phân hoá cao về TNHS theo hướng nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, người ngoan cố chống đối đồng thời cũng khoan hồng đổi với người bị ép buộc, bị lừa gạt, bị lôi kéo mà phạm tội nhưng đã tự thú, thành khẩn khai báo. Thể hiện nguyên tắc này, trong các điều luật cụ thể quy đỉnh về các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều có ít nhất hai khung hình phạt khác nhau. Trong đó có nhiều điều luật xác đỉnh rõ hai loại khung hình phạt cho trường hợp nghiêm trị và cho trường hợp khoan hồng. Ngoài ra, Điều 110 BLHS còn cụ thể hoá nguyên tắc khoan hồng qua việc quy định về trường hợp được miễn TNHS đổi với người phạm tội gián điệp. Đây là một trong số ít các điêu luật thuộc Phân các tội phạm đã cụ thể hoá điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS là điều quy định về căn cứ miễn TNHS nói chung.

Nguyên tắc thứ hai này không chỉ được thể hiện trong sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự mà còn đòi hỏi phải được thể hiện trong sự cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong áp dụng luật.

Khoản 2 Ðiều 29 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các cǎn cứ sau đây: a)..; b)..; c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc tội phạm và lập công lớn …”

Khoản 4 Điều 110 Bộ luật hình sự quy định: “Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội phạm này”.

Từ nguyên tắc xử lý chung như trong, Bộ luật hình sự Việt Nam quy định hình phạt có thể được áp dụng cho người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia như sau:

– Hình phạt chính có thể được áp dụng là hình phạt trước thời hạn, hình phạt tù chung thân hoǎc hình phạt tử hình.

– Hình phạt bổ sung có thể được áp dụng là hình phạt tước một số quyền công dân, hình phạt quản chế, hình phạt cấm cư trú, hình phạt tịch thu tài sản.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

3- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Các tội xâm phạm an ninh quốc gia – khái niệm, chính sách xử lý được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Các tội xâm phạm an ninh quốc gia – khái niệm, chính sách xử lý có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here